Liên hệ mua Nano Bạc: 0984 482 878 - 093 886 2968

Tuesday, November 25, 2014

Trong khi nông dân ở các tỉnh khác đang vất vả đối mặt với bệnh cây tiêu chết nhanh, chết chậm (CN-CC), thậm chí nhiều hộ gia đình phải bỏ cả vườn tiêu thì tại Bà Rịa – Vũng Tàu, từ 3 năm trở lại đây người trồng tiêu đã tìm ra nguyên nhân và có giải pháp khắc phục bệnh này khá hiệu quả.

khong-che-duoc-benh-tren-cay-tieu
Vườn tiêu của gia đình ông Phạm Văn Ánh, ấp Tân Bang, xã Xà Bang (Châu Đức) đã hạn chế được bệnh chết nhanh chết chậm nhờ canh tác theo hướng hữu cơ sinh học, đạt  năng suất 4 tấn/ ha.

Theo thống kê của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (TT-BVTV), BR-VT được coi là thủ phủ của cây tiêu với tổng diện tích trên 8.000ha, xếp thứ 4 trên cả nước. Từ đầu năm đến nay, trên toàn tỉnh mới có gần 90ha tiêu nhiễm bệnh CN-CC xấp xỉ 1% so với tổng diện tích. Cụ thể, bệnh chết chậm xảy ra trên khoảng 68ha, bệnh chết nhanh khoảng 20,5ha (với tỷ lệ nhiễm từ 1-3%) chủ yếu tại huyện Châu Đức và Xuyên Mộc. Bệnh CN-CC trên cây tiêu dù chỉ xảy ra rất ít, nhưng việc phòng bệnh CN-CC là rất cần thiết bởi nếu để cây nhiễm bệnh là khó có thể cứu chữa. Bà Trần Thị Yến, Phó trưởng Chi cục TT-BVTV cho biết, hiện nay bệnh CN-CC đã không còn là nỗi ám ảnh của người trồng tiêu trên địa bàn tỉnh khi mà biện pháp phòng bệnh tổng hợp đã được triển khai và áp dụng.

Thời gian qua, Chi cục TT-BVTV đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ người trồng tiêu, như tổ chức hội thảo chuyên đề “Canh tác cây tiêu bền vững theo hướng hữu cơ sinh học” tại các vùng trồng tiêu trọng điểm của tỉnh. Theo đó, người trồng tiêu trên địa bàn đã chuyển từ việc bón phân hóa học sang hóa phân hữu cơ (phân chuồng, phân hữu cơ vi sinh) kết hợp với các chế phẩm sinh học. Biện pháp thoát nước trong mùa mưa và tưới nước trong mùa khô cũng được bà con quan tâm.

Ông Vũ Văn Nghĩa, xã Quảng Thành (Châu Đức) cho biết, sau khi tham gia lớp chuyển giao khoa học kỹ thuật về trồng và chăm sóc cây tiêu, ông đã áp dụng giải pháp bón phân cân đối, đồng thời cải tạo hệ thống thoát nước phù hợp với điều kiện vườn tiêu khá dốc. Ông còn tạo tỉa vườn tiêu thông thoáng, cắt bỏ các cành tiêu mọc sát đất và các dây thân vô hiệu mọc ra từ tán. Cây trụ sống cũng được tỉa thật thoáng trong mùa mưa. Các bộ phận cây tiêu bị bệnh được dọn sạch khỏi vườn để tiêu hủy. Nhờ đó, trong nhiều năm liền, vườn tiêu của gia đình ông không bị dịch bệnh làm chết cây.

“Trước đây, khi chưa được học các kỹ thuật trồng và chăm sóc cây tiêu, tui thường làm bồn sâu, nước bị ứ đọng, tiêu thường bị chết, năng suất cũng chỉ đạt 1,5 tấn/ha. Nay làm bồn cạn, nước được điều tiết tốt nên vườn tiêu không bị ứ đọng nước, tránh được trường hợp tổn thương cho rễ tiêu và nấm bệnh xâm nhiễm, vườn tiêu luôn xanh tốt và đạt năng suất tăng gấp đôi” – ông Nghĩa cho biết thêm.

Còn theo kinh nghiệm của ông Trần Minh Phước, một hộ trồng tiêu tại xã Kim Long (Châu Đức) thì bệnh CN-CC trên cây tiêu xảy ra là do không tuân thủ đúng theo quy trình canh tác theo hướng hữu cơ sinh học. Theo ông Phước, sau khi học hỏi kinh nghiệm và tiếp thu những thông tin do TT-BVTV cung cấp, người trồng tiêu đã thận trọng với việc sử dụng phân hóa học và bắt đầu mở rộng việc sử dụng phân hữu cơ. Ngoài ra, để tăng tuổi thọ cho cây tiêu, ông chú ý đến vấn đề thoát nước nhằm phòng bệnh chết nhanh. Vườn tiêu của ông được chia thành những lô trồng riêng biệt, cứ 100-150 trụ lại có một hệ thống thoát nước riêng.

Ông Trần Văn Thắng, một hộ mới trồng cây tiêu được 2 năm tại xã Bàu Lâm (Xuyên Mộc) cho biết, người trồng tiêu hiện nay ai cũng phải thuộc lòng cách sử dụng phân bón, tưới tiêu nước, đặc biệt là tuyệt đối tránh tình trạng bón thừa phân. Những hộ có khả năng tài chính còn đầu tư hệ thống tưới ngầm, cung cấp nước kịp thời cho cây khi cần thiết. Đây là những biện pháp phòng bệnh CN-CC khá hiệu quả.

Theo Quang Đạt (baobariavungtau.com.vn)

Friday, October 3, 2014

Nhiều nhà nhập khẩu gia vị lớn tại Đức, Hà Lan vừa gửi cảnh báo đến các doanh nghiệp Việt Nam về quy định siết chặt chất lượng hồ tiêu nhập khẩu từ Việt Nam.

chau-au-siet-chat-chat-luong-ho-tieu-nhap-khau
Hồ tiêu thường xảy ra dịch bệnh nên nông dân sử dụng khá nhiều thuốc BVTV.

Theo đó, thị trường châu Âu phát hiện trong hồ tiêu Việt Nam có dư lượng carbendazim khá phổ biến. Do đó, bắt đầu từ năm 2015, châu Âu sẽ đưa hoạt chất carbendazim vào danh mục cấm nhập. Carbendazim là một chuyển hóa chất của benomyl, được sử dụng rộng rãi như một loại thuốc diệt nấm, rỉ sắt… Các loại thuốc có chứa carbendazim: Acovil 50 SC, Vicarben 50WP, 50SC, Benzimidine 50 SC, Baberim 500 FL, Arin 25SC, 50SC, 50WP, Appencarb super 50FL, 75WG, Agrodazim 50 SL, 500SC…

Các doanh nghiệp xuất khẩu hồ tiêu khuyến cáo nông dân hạn chế tối đa, hoặc không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật có chứa hoạt chất carbendazim vì nếu tình trạng hồ tiêu nhiễm hoạt chất carbendazim còn kéo dài, thì hồ tiêu nước ta sẽ bị ép giá mạnh so với tiêu Ấn Độ, Indonesia và Brazil từ năm 2015.

Hiện tại giá hồ tiêu Việt Nam đang ở mức cao, nhiều người đang đổ xô trồng tiêu mà không chú ý đến việc bảo đảm an toàn sinh học sản phẩm. Do đó giá tiêu Việt Nam vẫn thấp hơn Ấn Độ đến 65.000 đồng/kg.

Theo Quang Thuần (Báo Thanh Niên)

Wednesday, September 3, 2014

Wednesday, August 20, 2014

Sáng (8/8), Viện Khoa học công nghệ và phát triển nông thôn phối hợp với Công ty đầu tư và phát triển Bắc Sơn tổ chức Hội nghị “Triển khai hoạt động Khoa học công nghệ giai đoạn 2014 – 2016”. Phó Viện trưởng – KS Trương Quốc Tùng chủ trì hội nghị.

Hợp tác đẩy mạnh sản xuất, bảo vệ sức khỏe con người và môi trường

Tại hội nghị, các đại biểu đã được giới thiệu một số Dự án khoa học ứng dụng công nghệ Nano - công nghệ thiết kế, phân tích, chế tạo và ứng dụng các cấu trúc, thiết bị và hệ thống bằng việc điều khiển hình dáng, kích thước trên quy mô nanomet.

Trình bày về Dự án Đầu tư xây dựng xí nghiệp sản xuất than sinh học từ phế thải nông lâm nghiệp, ông Đỗ Dũng, KS Viện KHCN & PTNT – Đông Nan Á chủ nhiệm Dự án cho biết: Mục tiêu của dự án là xây dựng một xưởng sản xuất than sinh học với nguồn nguyên liệu là các chất thải của nông lâm sản nhằm phục vụ nhu cầu sử dụng sản phẩm này trong các ngành nông nghiệp, công nghiệp và đời sống. Việc sử dụng các phế thải loại này còn góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường – một vấn đề mang tính toàn cầu trong thời đại ngày nay.

Công nghệ sản xuất than hoạt tính từ phế thải nông lâm sản không quá phức tạp. Tuy nhiên, đòi hỏi kỹ thuật đốt than trong lò yếm khí để tạo ra sản phẩm có chất lượng. Quy trình này bắt đầu từ việc nghiền nguyên liệu, sang tuyển, sấy khô, ép thanh, than hóa rồi làm lạnh, đóng gói, nhập kho và cuối cùng là tiêu thụ. Đây là dự án có ích cho môi trường, bảo vệ cuộc sống.

Bên cạnh đó, tại hội nghị KS. Trương Quốc Tùng, Phó Viện trưởng Viện KHCN&PTNT đã giới thiệu Dự án Tư vấn, dịch vụ kỹ thuật và chuyển công nghệ sản xuất và sử dụng chế phẩm vi sinh hữu hiệu TB E2 theo công nghệ Nhật Bản do ông làm chủ nhiệm.

Dự án này theo KS. Dương Quốc Tùng được thực hiện sẽ giúp giảm thiếu được khí độc hại và mùi hôi nơi chuồng trại; xử lý nước thải, rác ô nhiễm, chế biến phân vi sinh từ phế thải sinh hoạt và phế thải chăn nuôi; làm sạch môi trường và bảo vệ sức khỏe người sản xuất.

Cũng trong hội nghị, TS. Nguyễn Hoàng Nam, Phó Viện trưởng Viện KHCN&PTNN đã trình bày Dự án dịch vụ kỹ thuật và chuyển giao công nghệ ứng dụng công nghệ Nano trong phát triển nông nghiệp sạch và VSMT sản xuất và sinh hoạt cộng đồng do ông làm chủ nhiệm.

Bằng việc sử dụng công nghệ Nano, Dự án sẽ nâng cao hiệu quả kinh tế - kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp sạch, bảo vệ môi trường và ứng dụng vào các ngành công nghiệp Y tế - Gia dụng; qua đó thay thế công nghệ sử dụng hóa chất độc hại ở nông nghiệp, nông thôn Việt Nam hiện nay. Đồng thời, tạo được bước phát triển mới trong chiến lược phát triển sản phẩm, sản phẩm an toàn, đa tác dụng, nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm và thân thiện với môi trường, đầu tư thấp mà lợi nhuận lại cao.

Phần mềm Tra cứu trực tuyến thuốc bảo vệ thực vật phục vụ quản lý, SXKD và sử dụng thuốc BVTV trong SXKD bền vững – TS. Phạm Thị Phong, GĐ ACC là người sáng lập.

Ưu điểm của phần mềm này là bất cứ ai cũng có thể tra cứu được công dụng, liều lượng…các loại thuốc bảo vệ thực vật qua internet chỉ trong vòng 3 phút. Với sự thuận tiện của dự án, người nuôi trồng sẽ tiết kiệm được chi phí, thời gian và chọn mua được đúng loại thuốc mình cần.

Nhân dịp này, lãnh đạo Viện KHCN&PTNN và Công ty đầu tư và phát triển Bắc Sơn đã làm lễ ký kết hợp tác song phương giữa hai bên giai đoạn 2014-2016.

Các đại biểu dự hội nghị cũng đã đưa ra một số ý kiến xung quanh các vấn đề như làm thế nào để người dân thể biết được đâu là loại thuốc tốt nhất khi tra cứu phần mềm thuốc bảo vệ thực vật nếu với cùng công dụng như nhau nhưng lại có nhiều nhãn hiệu khác nhau… phần lớn mọi người đánh giá rất cao về công nghệ Nano đối với lĩnh vực chăn nuôi, trồng trọt và cả lĩnh vực thời trang.

Kết thúc hội nghị, TGĐ Công ty ĐT&PT Bắc Sơn – ông Lưu Minh Ngọc đã tổ chức bốc thăm trúng thưởng cho các đại biểu tham dự.

Theo Hà Thương - Dailo.vn

Wednesday, August 13, 2014

Nhiều nông dân tỉnh Đăk Nông đổ xô tìm tới các vườn ươm để đặt giống cây tiêu Amazon về trồng. Tuy nhiên đây lại là giống cây mới, chưa qua khảo nghiệm nghiên cứu, tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Giống tiêu Amazon đang được ghép tại các vườn ươm trên địa bàn Đăk Nông

Theo tìm hiểu của PV, hiện ở Đăk Nông xuất hiện nhiều vườn ươm, cơ sở bán giống tiêu ghép Amazon. Đây là một loại tiêu ghép được ghép từ gốc ghép là cây dây leo rừng Amazon với các giống tiêu địa phương.

Cây dây leo rừng Amazon được sử dụng làm gốc ghép có tên khoa học là Piper Colubrinum link, xuất xứ từ Nam Mỹ, được nhập từ Campuchia, Thái Lan về để ghép, chúng có hình thái khá giống cây trầu nên thường được bà con gọi nôm na là cây trầu Nam Mỹ.

Khi đưa vào Việt Nam, các cơ sở SX ươm giống đã dùng cây này làm gốc để ghép các giống tiêu truyền thống cho ra các giống tiêu mới. Theo các thông tin đánh giá ban đầu từ những chủ cơ sở vườn ươm thì giống tiêu này có bộ rễ rất khỏe, khả năng chống chịu sâu bệnh cao và đặc biệt là không bị úng nước nên được người dân ưa chuộng và ồ ạt tìm mua để về trồng.

Tuy nhiên, qua kiểm tra đánh giá, giống tiêu ghép Amazon này chưa có kết quả nghiên cứu đánh giá của các ngành chuyên môn và nhà khoa học cũng như chưa được tổng kết, đánh giá qua mô hình trồng thực tế để chứng minh về năng suất, chất lượng.

Ông Nguyễn Văn Chương, Trưởng phòng Trồng trọt, Chi cục BVTV Đăk Nông cho biết: "Trước thông tin nhiều người dân đổ xô tìm tới các vườn ươm để đặt giống tiêu Amazon về trồng, Chi cục đã phối hợp với phòng kỹ thuật nghiệp vụ thuộc Sở NN-PTNT đã xuống tận Đồng Nai, nơi được coi là cái nôi SX giống để kiểm tra.

Nhiều vườn tiêu Amazon đang héo dây, chết mòn, không thể cứu được​

Để hạn chế thiệt hại đáng tiếc có thể xảy ra cho nông dân, Sở NN-PTNT Đắk Nông đã có các văn bản khuyến cáo, chỉ đạo Phòng NN-PTNT các huyện, thị xã trong tỉnh đẩy mạnh việc tuyên truyền không ồ ạt trồng giống tiêu Amazon, đồng thời tăng cường công tác quản lý việc SXKD giống trên địa bàn.​

Về phía người nông dân cũng cần thận trọng trong việc tìm hiểu các giống cây trồng mới để đưa vào SX, nhằm tránh những thiệt hại không đáng có sau này.​

Qua khảo sát tại các vườn ươm ở Đồng Nai, đoàn nhận thấy việc nhân giống tiêu Amazon chủ yếu là do các vườn ươm dựa trên các đặc tính tốt của cây trầu Nam Mỹ, sau đó tự ý ghép chung với giống tiêu Việt Nam chứ chưa qua quá trình nghiên cứu, đánh giá nào.

Hiện tại vẫn chưa có bất cứ chứng nhận về chất lượng nào đối với giống tiêu Amazon mà nông dân đang tìm mua về trồng trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua".

Mặt khác, sau một thời gian theo dõi thực tế 5 ha tiêu Amazon đang được trồng khảo nghiệm trên địa bàn huyện Krông Nô, thị xã Gia Nghĩa, ông Phạm Hùng Vỹ, Phó phòng Kỹ thuật nghiệp vụ, Sở NN-PTNT Đăk Nông cho biết, giống tiêu Amazon được người dân tìm về trồng tại địa phương bộc lộ rất nhiều hạn chế, không giống như lời đồn thổi, quảng cáo từ các nhà vườn ươm giống.

Giống tiêu này có khả năng chịu hạn rất kém, không phù hợp với điều kiện khí hậu cũng như thổ nhưỡng của địa phương Đăk Nông cũng như khu vực Tây Nguyên.

Các hộ dân ở thị xã Gia Nghĩa trồng giống tiêu này đa phần bị chết dây, vàng lá cả vườn tiêu, không thể cứu được nên thiệt hại không hề nhỏ. Bên cạnh đó giống tiêu Amazon ra hoa thường không đồng loạt dẫn đến thời gian thu hoạch kéo dài, do đó chi phí thu hoạch tăng hơn các giống tiêu khác.

Đến thời điểm này vẫn chưa có một biện pháp nào để có thể giúp cây tiêu Amazon cho ra hoa, kết trái đồng loạt”, ông Vỹ nói.

Theo nongnghiep.vn

Tuesday, December 3, 2013

Dung dịch nano bạc N200Pro giúp phòng và hỗ trợ trị các loại bệnh trên tôm như:

1. Bệnh viêm ruột, xuất huyết đường ruột và hoại tử:

Nguyên nhân: Tôm bị nhiễm trùng và thiếu dinh dưỡng, thiếu vitamin C. Ngoài ra cũng có thể do tôm bị ngộ độc khí, kim loại nặng hoặc do các yếu tố môi trường xấu (hàm lượng oxy, nồng độ muối thấp, nhiệt độ nước ao thay đổi đột ngột, trong nước ao nuôi có độc tố do một số tảo tiết ra khi vào ruột tôm làm tấy đỏ thành ruột và ức chế chức năng gan tụy).

Dấu hiệu: Bệnh xảy ra ở tất cả các giai đoạn phát triển từ tôm giống đến trưởng thành làm cho tôm mất khả năng thấm lọc ruột dẫn đến hấp thụ dinh dưỡng kém rồi tử vong. Đối với tôm bị bệnh thường lờ đờ, vỏ có màu xanh nhạt, dưới vỏ có nhiều đốm màu nâu, hơi vàng. Khả năng tiêu hóa của ruột và gan tụy giảm sút nghiêm trọng làm tôm giảm ăn, chậm lớn, dễ bị sốc. Trong ruột tôm có nhiều vi sinh vật tạp khuẩn.

Phòng và trị bệnh: Nên sử dụng Nano bạc N200 để xử lý nguồn nước một cách định kì nhằm tiêu diệt các loại nấm, virus, vi khuẩn có hại đồng thời làm sạch đáy ao, giảm thiểu các khí độc và độc tố do môi trường bị ô nhiễm. Trộn Nano bạc vào thức ăn cho tôm ăn định kì 2 tuần/lần để diệt các loại vi khuẩn gây bệnh đường ruột. Sau đó có thể bổ sung men vi sinh để tăng cường đường tiêu hóa, tạo khả năng cho ruột tôm hấp thụ tốt các chất dinh dưỡng.

2. Bệnh phát sáng:

Dấu hiệu: Xảy ra ở tất cả các giai đoạn phát triển của tôm. Bệnh này có thể gây ra hiện tượng tôm bị mòn đuôi, cụt râu.

Phòng bệnh: Dùng Nano bạc N200Pro té đều xuống ao để diệt vi khuẩn phát sáng tồn tại trong ao. Giữ nền đáy sạch trong suốt quá trình ương nuôi, kết hợp dùng men vi sinh, tăng cường sục khí để tăng oxy hòa tan và đồng đều ôxy giữa các tầng nước.

3. Bệnh đốm nâu:

Bệnh thường xảy ra sau khi nuôi 2-3 tháng trở đi, trên cơ thể tôm xuất hiện các đốm màu nâu và sau đó chuyển sang màu đen. Khi nhiễm bệnh, thường xuất hiện ăn mòn các phần phụ như đuôi, chân bụng, râu, trên thân tôm.

Tôm bị bệnh sẽ rất yếu, hoạt động chậm chạp, con bị nặng sẽ chết. Tác nhân gây ra bệnh chủ yếu do vi khuẩn Aeromonas.

Phòng trị: Khi tôm bị bệnh điều cần thiết là thay dần nước ao và tiến hành xử lý nguồn nước bằng dung dịch Nano bạc để tiêu diệt vi khuẩn Aeromonas tác nhân gây bệnh, ngăn chặn dịch bùng phát.

Kiểm soát phòng ngừa bênh đốm nâu bao gồm: cải thiện môi trường nước ao nuôi với dung dịch Nano bạc N200, quản lý và đầy đủ dinh dưỡng, đáy ao phải bằng phẳng, tăng cường tác ẩn cho tôm, hạn chế tối đa sự tụ tập của tôm chống hiện tượng ăn thịt lẫn nhau bằng cách cung cấp đầy đủ thức ăn và giữ cho chất lượng nước ao luôn tốt.

4. Bệnh đỏ toàn thân:

Nguyên nhân: Có thể do các chất độc từ các vi sinh vật hay do nhiễm vi khuẩn. Cho tôm ăn thức ăn có tạp hôi thối lâu ngày là nguyên nhân gây bệnh. Các vi khuẩn gây độc và gây bệnh này trú ở gần gan tụy của tôm. Các loại tôm đều mắc bệnh này. Bệnh xảy ra ở tất cả các giai đoạn nhưng phổ biến ở tôm giống và tôm trưởng thành.

Bệnh lý được biểu hiện qua những giai đoạn khác nhau, tôm mới nhiễm bệnh có màu vàng hơi xanh, tập tính bình thường. Giai đoạn tiếp theo, tôm trở nên có màu đỏ từ mang, các đầu chân, và sau đến toàn bộ cơ thể. Giai đoạn nặng, sắc tố bình thường của tôm bị mất hoàn toàn. Trên đầu ngực của tôm có nhiều chất dịch nhờn, rất tanh và hôi thối. Gan tụy bị phá hủy và có màu vàng nhợt nhạt không bình thường. Tôm bệnh chết hàng loạt.

Phòng bệnh: Sử dụng dung dịch Nano bạc để xử lý nước ao nuôi định kì Không cho tôm ăn thức ăn tươi sống quá dư thừa. Trộn Nano bạc cho tôm ăn theo đúng liều lượng nhằm hạn chế các bệnh đường ruột, gan tụy. Chuẩn bị ao kỹ trước khi nuôi và quản lý chất lượng nước ao tốt để hạn chế bệnh xảy ra.

Nano bạc khi phân tán trong môi trường ao nuôi chúng sẽ phòng và diệt nguồn bệnh trong ao nuôi, ổn định màu nước, khử mùi hôi tanh của nước, đặc biệt đối với những ao có chất thải hữu cơ từ phân gia súc và gia cầm, hạn chế cá ăn nổi và các bệnh như đốm đỏ, đốm trắng, bệnh nấm thủy my, nấm mang, nấm bào tử… Đặc biệt N200 không phụ thuộc vào môi trường nước mặn hay ngọt, không bị phân hủy ở nhiệt độ cao, là một chất trơ trong mọi môi trường.

Cách sử dụng:

- Dùng với mục đích phòng bệnh: Dùng 100ml N200 pha với 15 lít nước té đều cho 150m3 nước cao nuôi. Trộn 1chai 450ml N200 với 50kg thức ăn cho ăn định kì 2 lần/tháng.

- Dùng với mục đích chữa bệnh: khi nước ao có màu đen sẫm, có mùi, tôm cá chết hàng loạt, thường xuyên ăn nổi, thiếu oxi có thể dùng 150ml dung dịch N200 pha với 150 lít nước té đều cho 150m3 nước ao nuôi. Nếu bệnh nặng có thể dùng ở nồng độ cao hơn và xử lý 2 lần liên tiếp,mỗi lần cách nhau 5-7 ngày.

Saturday, November 16, 2013

Ngày 07/6/20132013, Phòng Thí nghiệm Công nghệ Nano (LNT) – Đại học Quốc gia TP. HCM phối hợp với Cục công tác phía Nam - Bộ Khoa học và Công nghệ, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Bạc Liêu đã tổ chức Hội thảo với chủ đề “Ứng dụng Nano bạc trong phòng ngừa bệnh tôm”. Đây là chuyên đề nằm trong chuỗi Hội thảo “Ứng dụng công nghệ nano trong nông nghiệp”.

TS Bùi Văn Quyền, Cục trưởng Cục công tác phía Nam đến dự và phát biểu khai mạc hội thảo.Tham dự hội thảo có hơn 130 đại biểu, gồm đại diện các sở ban ngành, doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ nông dân nuôi tôm trong tỉnh. Trong chuỗi hoạt động nhằm đưa những kết quả nghiên cứu vào thực tế, LNT tổ chức hội thảo với sự tài trợ từ Dự án Đối tác đổi mới sáng tạo Việt Nam - Phần Lan (Innovation Partnership programme - IPP). Mục tiêu của Hội thảo nhằm quảng bá rộng rãi sản phẩm dung dịch nano bạc được nghiên cứu chế tạo bởi LNT và các ứng dụng của nano bạc trong phòng ngừa bệnh tôm và bảo quản hoa quả (thanh long) đến các cơ quan quản lý, doanh nghiệp và nông dân tại các tỉnh khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
ung-dung-nano-bac-trong-phong-ngua-benh-tom
TS Bùi Văn Quyền phát biểu khai mạc hội thảo

Tại hội thảo, LNT đã giới thiệu sản phẩm dung dịch nano bạc (nồng độ: 200 -100.000 ppm, kích thước hạt từ 2-5 nano mét), với ứng dụng, kinh nghiệm thực tế sử dụng nano bạc trong xử lý nước ao nuôi tôm và trong bảo quản thanh long. Kết quả kiểm nghiệm của Viện Pasteur TP. Hồ Chí Minh cho thấy, sản phẩm nano bạc của LNT có khả năng diệt các loài vi khuẩn có trên hoa quả và vi khuẩn gây bệnh tôm. Kết quả kiểm nghiệm sản phẩm nano bạc cũng khẳng định sản phẩm nano bạc có khả năng diệt tảo lam và các loại vi khuẩn Escherichia coli, Vibrio anguillarum, Vibrio harveyi, V.Fluvialis, V. Parahaemolyticus... Kết quả khảo nghiệm nuôi tôm thẻ chân trắng tại trại nuôi tôm của Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh, sau 53 ngày cho thấy tôm trong bể nuôi có sử dụng nano bạc còn sống trên 85%.

Ông Phạm Hoàng Minh, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ phát biểu sau hội thảo này: Sở Khoa học và Công nghệ sẽ phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và LNT xây dựng mô hình “Ứng dụng công nghệ nano bạc trong phòng ngừa bệnh tôm tại tỉnh Bạc Liêu”, trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt triển khai thử nghiệm, sau khi thành công sẽ tổ chức hội thảo để nhân rộng mô hình.
Theo skhcn. baclieu.gov.vn

Tuesday, November 5, 2013

Công nghệ Nano Bạc giúp bảo vệ sức khỏe con người bởi khả năng làm sạch khuẩn, ngăn các vi khuẩn, virus gây hại phát triển.

Bạn đã bao giờ băn khoăn tại sao các đồ dùng để ăn của các quý tộc xưa đều bằng Bạc? Tại sao chúng ta lại đeo vòng Bạc để tránh gió? Vì sao đa số những đồ ăn nhanh ngày nay đều được bọc một tấm giấy Bạc bên ngoài? Câu trả lời chính là vì con người đã hiểu được những công dụng đặc biệt của Bạc và ứng dụng nó vào cuộc sống.

Các phân tử bạc có tác dụng như một lớp màng bảo vệ ngăn không cho vi khuẩn có hại thâm nhập, đồng thời các phân tử Bạc chiếm lấy oxy của các vi khuẩn, làm cho vi khuẩn có hại không có oxy và dần bị cô lập và tiêu diệt.

Ngày nay, với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, công nghệ Nano Bạc (Nano Silver) ra đời và trở thành một trong những công nghệ tiên tiến hàng đầu trên thế giới được sử dụng tại nhiều quốc gia, trong việc vảo vệ sức khỏe con người bởi khả năng làm sạch khuẩn, ngăn các vi khuẩn gây hại phát triển.

Nano Bạc có đặc tính ưu việt hơn nhiều lần so với các sản phẩm kháng khuẩn khác trong việc làm sạch khuẩn và ngăn vi khuẩn phát triển tới 99,9%. Công nghệ Nano Bạc giúp chia nhỏ các phân tử bạc, dàn mỏng thành một lớp tráng siêu mỏng trên đồ dùng, làm tăng tính năng làm sạch khuẩn của bạc. Đồng thời, Nano Bạc có khả năng hạn chế sự phát triển của vi khuẩn, tấn công và phá vỡ màng tế bào của gần 650 loại vi khuẩn đơn bào gây hại, đặc biệt là 2 chủng Staphylococcus (gây ung thư) và Ecoli (gây tiêu chảy) và đặc biệt hơn còn có tính năng khử mùi khi sử dụng.

Ngoài ra, do Bạc được xuất hiện một cách tự nhiên, không độc, không dị ứng, không tích tụ và vô hại đối với cả động vật hoang dã và môi trường nên sản phẩm ứng dụng công nghệ Nano Bạc rất an toàn cho người sử dụng. Tính năng làm sạch khuẩn bằng Nano Bạc được các chuyên gia đầu ngành tại Viện nghiên cứu Khoa học Vật lý và Viện Dinh dưỡng khẳng định là an toàn tuyệt đối, hoàn toàn không ảnh hướng tới thực phẩm, sức khỏe không ảnh hưởng đối với da hay hệ hô hấp của con người.

Theo GS.TS Phan Hồng Khôi, Chủ tịch Hội Vật lý Việt Nam, Viện Khoa học Vật liệu, Nano Silver là công nghệ của thế kỷ 21, giúp bảo vệ và nâng cao chất lượng cuộc sống. Đó là một ứng dụng hoàn thiện của khoa học và công nghệ Nano đối với Bạc để tăng tính năng làm sạch khuẩn và khử mùi.

cong-nghe-nano-bac-vi-cuoc-song-an-toan-hon

Công nghệ Nano Bạc đang được ứng dụng rất rộng rãi tại nhiều nước trên thế giới trong nhiều sản phẩm như các dụng cụ bảo quản thực phẩm, các vật liệu may mặc, các đồ dùng có tính năng kháng khuẩn, bảo vệ sức khỏe, đặc biệt đối với sản phẩm dành cho trẻ em (như bình sữa, núm vú, đồ chơi, khăn ướt…). Bố mẹ yên tâm bé yêu của mình sẽ được chăm sóc nhẹ nhàng và an toàn với những sản phẩm được ứng dụng công nghệ này.
Theo 24h. com.vn

Sunday, November 3, 2013

Trước tình trạng tôm chết hàng loạt tại các vùng nuôi tôm trọng điểm của ĐBSCL, các nhà khoa học thuộc Phòng thí nghiệm công nghệ nano TP.HCM đã đưa ra giải pháp cứu ao tôm bằng công nghệ nano bạc.

Các hộ nuôi tôm từ Cần Giờ đến Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Cà Mau... đang vật lộn để cứu ao tôm. Nhiều hộ đã bị phá sản, hàng chục ha ao thả tôm giờ chết trắng. Số ao tôm bị nhiễm dịch tại các tỉnh này đang tăng lên mỗi ngày mà chưa có giải pháp khắc phục.

cong-nghe-nano-bac-cuu-lang-tom

Trước tình trạng này, các nhà khoa học đã phải đau đầu tìm ra giải pháp để cứu đàn tôm. Theo các chuyên gia, có 2 nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng tôm chết hàng loạt là con giống và môi trường nước. Trong đó, môi trường ô nhiễm vì dư lượng hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật, nước thải chứa mầm bệnh chưa được xử lý và các độc tố khác như tảo là đáng quan tâm nhất.

Theo nhóm nghiên cứu, bạc được biết đến như vật liệu “siêu” diệt khuẩn, được ứng dụng lâu đời trên các vật dụng điện tử, gia đình. Trong lĩnh vực nông nghiệp,dung dịch nano bạc dùng để diệt vi khuẩn, nấm, sâu bệnh chỉ mới phổ biến trong vài năm trở lại đây giúp phòng ngừa bệnh tôm.

GS.TS Đặng Mậu Chiến, Giám đốc Phòng thí nghiệm Công nghệ Nano, Đại học quốc gia TP.HCM chia sẻ: “Công nghệ này được xử lý 2 lần/ao tôm, đầu tư khoảng 20-30 triệu đồng. Nếu sử dụng công nghệ này đến hết một vụ tôm thì lợi nhuận thu được khoảng 500-700 triệu đồng”.

Lợi ích kinh tế đã rõ ràng, tuy nhiên, hiện giờ quy mô ứng dụng công nghệ này vẫn còn hạn chế bởi nhiều hộ nông dân còn dè dặt. Nếu không có sự hỗ trợ từ chương trình đổi mới sáng tạo IPP, miễn phí cung cấp vật liệu này ứng dụng cho hộ nông dân nuôi tôm thì không thể nhân rộng sản phẩm ra thị trường. Và nếu không có giải pháp, sẽ còn rất lâu nhà khoa học và người nông dân mới gặp được nhau và những đìa tôm chết trắng vẫn có nguy cơ tái diễn.


Theo VTV. VN

Friday, September 6, 2013

Nano Bạc đang được coi là chìa khóa để giải quyết nhiều vấn đề của ngành nuôi trồng thủy sản như xử lý cải tạo môi trường nước, phòng chống dịch bệnh, …

Vai trò của nano bạc trong thủy sản

Đối phó với nguy cơ từ mầm bệnh

Tình trạng ô nhiễm môi trường nước xảy ra trong các nuôi trồng thủy sản phần lớn là do các chất hữu cơ dư thừa từ thức ăn, phân và rác thải khác tồn đọng dưới đáy ao nuôi; hóa chất, kháng sinh tồn dư đọng lại mà không được xử lý. Đây là nơi sinh sống của vi sinh vật gây thối, có hại và các vi sinh vật gây bệnh cùng nhiều loại nấm và nguyên sinh động vật. Vi sinh vật gây bệnh được xem là tác nhân gây bệnh thứ cấp hoặc gây bệnh cơ hội. Một khi sự cân bằng của hệ vi sinh vật trong ao nuôi bị phá vỡ, các vi sinh vật có hại sẽ phát triển ồ ạt và sớm cộng hưởng với các yếu tố có hại khác để gây bệnh cho tôm, cá.

Giải pháp hoàn hảo

Có thể nói việc ứng dụng công nghệ Nano bạc trong nuôi trồng thủy sản chính là một trong những giải pháp hoàn hảo nhất để khắc phục những thực trạng nêu trên. Đối với nuôi trồng thủy sản, công dụng chính của Nano bạc là: Diệt hầu hết các loại vi khuẩn, vi rút; Xử lý và cải tạo môi trường nuôi trồng thủy sản; Phòng và diệt nguồn bệnh trong ao nuôi, ổn định màu nước; Khử mùi hôi tanh của nước, đặc biệt đối với những ao nuôi có chất thải hữu cơ từ phân gia súc và gia cầm; Hạn chế hiện tượng cá ăn nổi và các bệnh như đốm đỏ, đốm trắng, bệnh nấm thủy my, nấm nang, nấm bào tử.

Hầu hết bà con nuôi trồng thủy sản đều tin dùng vào sản phẩm do chi phí sử dụng thấp mà hiệu quả đem lại rất cao. Đặc biệt Sản phẩm đã được Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương – Bộ y tế chứng nhận: khả năng diệt khuẩn, an toàn cho người và vật nuôi, thân thiện với môi trường.

Monday, August 19, 2013

(Báo nông nghiệp Việt Nam) - Công nghệ nano (nanotechnology) đang làm một cuộc cách mạng trong nhiều ngành công nghiệp. Đối với ngành nông nghiệp, công nghệ nano cũng đang được nghiên cứu để áp dụng vào sản xuất.

Công nghệ nano được định nghĩa là: “Một ngành khoa học và công nghệ mà ở đó các kích thước từ 0,1 tới 100 nanomet (nm) đóng vai trò chủ đạo” (định nghĩa của Học viện Công nghệ Nano Anh quốc- Nanomét là đơn vị đo lường bằng một phần tỷ của mét)

Công nghệ Nano ứng dụng trong chăn nuôi

Trường Đại học Copenhaghen - Đan Mạch đang tiến hành nghiên cứu nano sinh học, được gọi là “nanobiotics”, đặc biệt là những nghiên cứu về nano bạc (Nanobiotic Silver) ứng dụng trong ngành chăn nuôi gia cầm. Những nghiên cứu này của Đại học Copenhaghen đã kết hợp với Đại học Warsaw từ năm 2007.

Bạc (Ag) và những ion của nó từ lâu đã được biết là có tính kháng khuẩn. Tuy nhiên những ion bạc thì độc với liều rất nhỏ, cho nên bị hạn chế sử dụng làm chất kháng khuẩn trong chăn nuôi.

Công nghệ nano đã tạo ra được những hạt bạc có kích thước nano (Nanobiotic-Ag) có đặc tính sinh học cao, độc tính thấp và không có tính kháng thuốc. Không những thế Nanobiotic-Ag còn có thể tăng hoạt động chuyển hoá tế bào, từ đó dẫn đến tăng tốc độ sinh trưởng của động vật. Các nhà khoa học của các trường đại học trên dự kiến Nanobiotic có thể thay thế kháng sinh cũng như các thuốc chống cầu trùng (coccidiostate) vào năm 2010.

Một dự án công nghệ nano của Đan Mạch mang tên “Dự án bảo vệ gà mái và gà thịt chống lại bệnh truyền nhiễm” (viết tắt là CHIP) đã được triển khai với sự tham gia của 13 đối tác thuộc khu vực nhà nước và tư nhân. Mục tiêu của CHIP là sử dụng những thành quả mới nhất của công nghệ nano và công nghệ sinh học để phá vỡ những con đường truyền bệnh và hạn chế các bệnh truyền nhiễm trong ngành chăn nuôi gia cầm. Dự án nhắm chủ yếu vào vấn đề vệ sinh bằng cách thử nghiệm những thuốc vô trùng mới và những chất phủ bề mặt các thiết bị chuồng nuôi bằng chất liệu nano (nanocoating). Các chất phủ bề mặt này vừa dễ làm sạch, vừa có tính sát khuẩn.

Dự án cũng nghiên cứu tác động của “nanobiotics” đến số lượng vi khuẩn và tốc độ đột biến của chúng, đến khả năng gây bệnh và tình trạng bệnh để từ đó đưa ra các giải pháp phòng ngừa và xử lý hiệu quả cho những đàn gia cầm lớn. Vi khuẩn E.coli được dùng làm mô hình nghiên cứu cho nhóm vi khuẩn gram âm và vi khuẩn Enterococcus feacalis được dùng làm mô hình nghiên cứu cho nhóm vi khuẩn gram dương.

Một dự án khác của Đan Mạch là nghiên cứu hiệu quả của công nghệ nano bề mặt (nanocoating) đối với các thiết bị quạt thông gió trong chuồng nuôi. Sự tiêu thụ điện của quạt đã được đánh giá theo một số loại chất phủ bề mặt khác nhau, trong đó có nano-bạc.

Bụi trong chuồng có thể bám vào các phiến lọc của quạt dày đến 1cm, làm giảm hiệu quả thông gió và tăng chi phi phí điện (mỗi trại gà của Đan Mạch hàng năm chi từ 100 ngàn đến 200 ngàn DKK, tương đương 18-36 ngàn USD cho việc sử dụng điện).

Trong một thí nghiệm sử dụng quạt phủ nano-bạc đã thấy giảm 6% chi phí về điện. Những ion từ nano-bạc đã ngăn không cho bề mặt bị phủ bởi một lớp biofilm, nhờ vậy bụi không có cơ hội dính vào lớp biofilm này (biofilm tạm dịch là màng sinh học do sự kết tập của các vi khuẩn trên bề mặt các chất vô cơ hay hữu cơ).

Công nghệ nano đã có những ứng dụng to lớn và hữu ích trong các ngành điện tử, năng lượng, y dược, mỹ phẩm… và sẽ còn đi xa hơn nữa trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt trong sinh y học.

Công nghệ mô nano (Nanotissue Engineering) có tham vọng tổng hợp nên những khung sinh học của các mô trong cơ thể, các khung này có cấu trúc nano, có thể tự thiết kế và tái tạo giống như protein tự nhiên. Và như vậy con người có thể hy vọng tạo ra được “collagen nhân tạo”, “tuỷ sống nhân tạo” hay “võng mạc nhân tạo”… để thay cho xương bị gẫy, để chữa bại liệt cho những người bị tổn thương cột sống hoặc để cho những người mù sáng mắt lại.

Trước mắt công nghệ nano còn nhiều thách thức cả về khoa học và công nghệ cũng như về sức khoẻ và môi trường.

Thách thức lớn nhất phải kể đến là con đường bắt chước tự nhiên để chế tạo và lắp ráp những vật liệu có cấu trúc nano. Xin nêu một thí dụ để minh hoạ:

Cây xanh có chất diệp lục (chloroplast) có khả năng chuyển ánh sáng mặt trời thành năng lượng và sinh khối với hiệu suất cao. Chloroplast chứa hàng trăm cấu trúc kích thước nanomet gọi là thylakoid. Bên trong thylakoid có những anten có cấu trúc nano có thể bắt được ánh sáng một cách hiệu quả và chuyển chúng thành hoá năng. “Pin mặt trời” là dụng cụ quang điện do con người tạo ra cũng có thể chuyển năng lượng của ánh sáng mặt trời thành điện năng. Tuy nhiên “pin mặt trời” thì đắt hơn và hiệu suất chuyển hoá kém hơn rất nhiều so với “pin cây xanh” (chloroplast).

Pin mặt trời hay những thiết bị quang điện cũng như các thiết bị vi điện tử do con người tạo ra đều đi theo con đường “từ trên xuống” (top-down), đó là con đường đi từ vật liệu có cấu trúc lớn đến vật liệu có cấu trúc nano. Ở các hệ thống sinh học, sinh vật sử dụng con đường “từ dưới lên” (bottom-up), đó là con đường “tự lắp ráp” những phân tử thành các cấu trúc nano, rồi thành các cấu trúc lớn hơn và cuối cùng thành cái cây hay con vật.

Một thách thức rất lớn cho công nghệ nano là cần phải tìm cách kết hợp hai con đường này để cho phép chúng ta lắp ráp được những thiết bị quang điện và điện tử rẻ tiền và hiệu quả giống như tự nhiên.

Liên quan đến môi trường và sức khoẻ của công nghệ nano, các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng những hạt nano-bạc đưa vào sợi tất để khử mùi hôi chân có thể thải vào rác thải và gây những hậu quả tiêu cực. Hạt nano-bạc có tác dụng ức chế sự hoạt động của vi khuẩn bệnh cũng có thể phá hoại vi khuẩn có lợi được sử dụng để phân giải chất thải hữu cơ trong các trang trại hay trong các nhà máy xử lý rác thải.

Một nghiên cứu gần đây cho biết một vài dạng của carbon nanotube có thể có hại như bụi amian nếu hít vào một số lượng nào đó. Như vậy khi thực hành trên loại vật liệu nano này thì cần có biện pháp đề phòng cẩn thận. Trong khi chưa có những quy định hướng dẫn về nano của Nhà nước, Paull và Lyons (tạp chí Organic Systems, 3 (1) 3-22, 2008) cho rằng: “cần loại bỏ tất cả các hạt nano trong các loại thực phẩm hữu cơ”.

Tuesday, July 30, 2013

(Thủy sản Việt Nam) - Chúng tôi đến xã Tân Tiến, huyện Đầm Dơi, tìm gặp anh Ngô Kiện Toàn, người nuôi thí điểm công nghệ nano của Công ty CP Huetronics (Huế), để tìm hiểu về quy trình anh mới áp dụng thành công.

Anh Toàn kể: Trước năm 2001, nuôi tôm theo các quy trình cũ, 2 - 3 năm liền anh đều thành công. Đến năm 2011, liên tiếp thất bại 2 vụ, anh rất hoang hoang. “Vẫn theo đúng “bài” như các năm trước, mà sao lại thua?”. Trong lúc còn đang lưỡng lự nuôi hay không nuôi, nếu nuôi thì theo mô hình nào mới “ăn”, Ngô Kiện Toàn được người quen với thiệu có Công ty CP Huetronics đang tìm chỗ để thí điểm mô hình nuôi tôm theo công nghệ nano.

Nuôi tôm theo công nghệ nano bạc
Công nghệ nano mở ra hướng mới cho người nuôi tôm
Áp dụng quy trình mới này, anh nuôi tôm thẻ chân trắng. Với diện tích 4 ha, anh chia làm 10 ao nuôi, mật độ thả 80 con/m2. Mua 2 loại giống khác nhau về thả; qua hơn 2 tháng nuôi, thu hoạch 23 tấn, giá bán trung bình loại 80 con/kg là 85.000 đồng/kg, tổng thu khoảng 1,7 tỷ đồng, sau khi trừ chi phí còn lãi khoảng 600 triệu đồng.

Anh Toàn cho biết: Nuôi tôm theo công nghệ nano không có gì phức tạp, cải tạo vuông nuôi ban đầu như các vụ nuôi khác, anh lấy nước vào trên 1 tấc; dùng than hoạt tính xử lý ban đầu ngâm khoảng 4 - 5 ngày, liều lượng dùng 30 kg cho 1.000m3. Trước khi thả tôm giống, anh dùng Anti VBF (nano bạc kháng khuẩn) pha đều tạt khắp ao, bình quân 2 lít/1.000m3. Ngoài ra, anh còn dùng Tio2 + ôxy già, đánh định kỳ 5 ngày/lần. Tôm được 7 ngày nuôi thì dùng nano bạc trộn vào thức ăn cho tôm, cứ 2 ngày một lần, mỗi lần 150 ppm/kg thức ăn; từ ngày thứ 30 trở lên thì trộn 100 ppm/kg thức ăn…; có thể bổ sung men vi sinh và Vitamin C để tăng sức đề kháng cho tôm.

Theo anh Toàn, nuôi theo công nghệ nano hiệu quả rõ hơn so với trước đó; khâu quản lý, chăm sóc cũng nhẹ hơn. Trong khi đó, tổng chi phí vụ nuôi rẻ hơn khoảng 16%. Tuy nhiên, đây là lần đầu tiên (nuôi thử nghiệm), muốn khẳng định chắc chắn hơn về hiệu quả và chất lượng mô hình này, còn phải chờ thực tế nuôi 2 - 3 vụ nữa.

>> Hiện nay, ngoài thử nghiệm nuôi ở Cà Mau, Công ty CP Huetronics đang thử nghiệm nuôi ở Quảng Trị, Bến Tre, Sóc Trăng, bước đầu đạt hiệu quả khá; nếu thành công, Công ty sẽ mở rộng công nghệ này cho người nuôi tôm trên cả nước.
Tình trạng tôm chết hàng loạt đã và đang diễn ra nghiêm trọng tại các vùng nuôi tôm công nghiệp trọng điểm của ĐBSCL. Đặc biệt, tại các tỉnh Bến Tre, Bạc Liêu, Cà Mau... nhiều hộ nuôi tôm gần như mất trắng mấy vụ liền, phải thế chấp sổ đỏ để vay tiền trả nợ. Trước thực tế này, các nhà khoa học thuộc Phòng thí nghiệm công nghệ nano - Đại học Quốc gia TPHCM (LNT) đã công bố kết quả thử nghiệm thành công công nghệ nano bạc trong phòng ngừa bệnh tôm.

Kháng khuẩn, diệt tảo độc

Theo nhóm nghiên cứu, bạc được biết đến như vật liệu “siêu” diệt khuẩn, được ứng dụng lâu đời trên các vật dụng điện tử, gia đình. Tuy nhiên, trong lĩnh vực nông nghiệp, nghiên cứu và ứng dụng dung dịch nano bạc để diệt vi khuẩn, nấm, sâu bệnh chỉ mới phổ biến trong vài năm trở lại đây.

Chính vì thế, tiến sĩ Đặng Mậu Chiến cùng một số nhà khoa học trẻ tại LNT đã quyết định chọn nông nghiệp là lĩnh vực chính để xây dựng chiến lược nghiên cứu và ứng dụng các sản phẩm, công nghệ nano, tiêu biểu là dung dịch nano bạc giúp phòng ngừa bệnh tôm.

Nano Bạc cứu người nuôi tôm
Thử nghiệm nuôi tôm bằng công nghệ nano bạc tại Trang trại Hoàng Vũ (Bến Tre)
Theo tiến sĩ Chiến, nhóm xác định được 2 nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng tôm chết hàng loạt là con giống và môi trường nước. Trong đó, môi trường ô nhiễm vì dư lượng hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật, nước thải chứa mầm bệnh chưa được xử lý và các độc tố khác như tảo... là đáng quan tâm nhất. Tìm hiểu xong yếu tố gây bệnh trên tôm, nhóm bắt tay vào nghiên cứu cách khắc phục.

Ròng rã 3 năm, làm việc cật lực với hàng trăm bài thực nghiệm; thành công có, thất bại cũng nhiều nhưng cuối cùng cũng cho ra dung dịch nano bạc. Thực nghiệm trong môi trường phòng thí nghiệm chứng minh sản phẩm nano bạc có khả năng diệt tảo lam và các loại vi khuẩn Escherichia coli, Vibrio anguillarum, Vibrio harveyi, V.Fluvialis, V. Parahaemolyticus (những loài gây bệnh trên tôm).

Để kiểm chứng rõ hơn, nhóm tiếp tục thử nghiệm nuôi tôm thẻ chân trắng tại trại nuôi tôm - Trường Đại học Nông Lâm TPHCM. Kết quả, sau 53 ngày (ngưỡng tử hiện nay đối với tôm từ 10 - 30 ngày) cho thấy, tôm trong bể nuôi có sử dụng nano bạc còn sống trên 85%. Trong khi ở bể đối chứng, tôm chết gần 100%.

Có thể ứng dụng ngay

Thành công trong môi trường thực nghiệm của sản phẩm dung dịch nano bạc là một tin vui không chỉ đối với nhóm nghiên cứu bởi thực tế hiện nay, các hộ nuôi tôm từ Cần Giờ (TPHCM) đến Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Cà Mau... đang vật lộn để cứu ao tôm. Số ao tôm bị nhiễm dịch tại các tỉnh này đang tăng lên mỗi ngày mà chưa có giải pháp khắc phục. Tính chung tại ĐBSCL hiện nay, diện tích nuôi tôm chừng 620.000ha, nhưng hơn 50% diện tích nuôi bị thiệt hại.

Anh Nguyễn Văn Buội, quyền Chi cục trưởng Chi cục Nuôi trồng thủy sản Bến Tre, cho biết trong những năm gần đây, nghề nuôi tôm ở tỉnh Bến Tre gặp nhiều khó khăn do dịch bệnh nguy hiểm gây ra. Theo số liệu thống kê, đến nay toàn tỉnh có hơn 3.000ha nuôi tôm thì có gần 1.000ha tôm bị nhiễm bệnh.

Với công nghệ phòng chống bệnh cho tôm bằng nano bạc, nếu áp dụng ra môi trường nuôi thực tế đạt hiệu quả như trong quá trình thực nghiệm, bà con nông dân nuôi tôm có thể lãi đến bạc tỷ. Với dung dịch nano bạc, Th.S Đặng Thị Mỹ Dung, thành viên nhóm nghiên cứu, cho biết cách sử dụng không phức tạp.

Chủ yếu là xử lý nguồn nước bằng dung dịch nano bạc với một liều lượng nhất định. Các phân tử nano bạc trong nước sẽ bao lấy vi khuẩn và tiêu diệt. Hiện dung dịch nano bạc đang được đăng ký sản phẩm tại Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế). Như vậy, sản phẩm có thể ứng dụng ngay vào thực tế với khả năng đáp ứng khoảng 200 lít/ngày.

Hiện công nghệ nano bạc đang được ứng dụng trên gần 6.000m² ao nuôi tôm tại Trang trại nuôi tôm công nghệ sạch Thái Tuấn (huyện Cần Giờ, TPHCM) và Trại tôm Hoàng Vũ (huyện Bình Đại - Bến Tre). Bước đầu, kết quả đánh giá nước trong ao qua xử lý nano bạc trong hơn, tôm khỏe hơn tôm trong ao đối chứng.

Dự kiến, LNT sẽ phối hợp với Sở KH-CN TPHCM triển khai công nghệ mới tại huyện Cần Giờ để đánh giá mức độ hiệu quả trong môi trường nuôi công nghiệp.

"Tình trạng tôm chết hàng loạt gây thiệt hại cho nông dân cần sớm tìm cách khắc phục. Nghiên cứu mới này nếu đạt hiệu quả như công bố sẽ giải quyết được mối lo cho cả ĐBSCL. Tuy nhiên, việc đánh giá cần kỹ lưỡng hơn, nhất là quy trình và liều lượng sử dụng thế nào để đạt hiệu quả cao nhất. Trước mắt, nhóm nghiên cứu cần phối hợp với ngành nông nghiệp các tỉnh để triển khai thử nghiệm trên một diện tích ao nuôi nhất định trong khoảng 2 - 3 vụ. Nếu thành công mới áp dụng trên diện tích rộng hơn"
GS-TS Nguyễn Văn Hiệu